Giỏ hàng

BÍ QUYẾT CHỌN LÀNH TRÁNH DỮ CỦA CỬA CHÍNH - PHẦN 4

Đăng bởi White Home ngày bình luận

NÊN ĐẶT VỊ TRÍ CỬA CHÍNH TẠI CÁT VỊ

Liên quan đến phong thủy của cửa chính, trong phần nội dung trước đã nêu, phần lớn thuộc về các cục trong nhà, còn gọi là: “tiểu loan đầu” hoặc “loan đầu hậu thiên”. Trong phần nội dung này tôi nói về lý khí, còn gọi là khí học, tức là trước tiên cần biết phương vị nào trong nhà là cát vị hoặc hung vị, sau đó mới tuyển chọn vượng cung để đặt vị trí cửa, cũng như tránh đặt vị trí cửa tại suy cung.

Đối với việc xem xét suy vượng của ngôi nhà, những phái phong thủy khác nhau sẽ dùng phép tắc phong thủy, phi tinh và tinh bàn là kiến thức phong thủy tương đối thâm sâu, người bình thường muốn học tập sẽ tương đối khó khăn. Do lý luận của phong thủy bát trạch tương đối thâm sâu, cho nên người xưa dã thay đổi lười ca của du niên thành khẩu quyết để hỗ trợ cho việc ghi nhớ, từ đó giúp cho phong thủy bát trạch trở nên đươn giản hơn nhiều. Khẩu quyết của du niên như sau:

“Càn Lục Thiên Ngũ Họa Tuyệt Diên Sinh,

Tốn Thiên Ngũ Lục Họa Sinh Tuyệt Diên.

Khảm Ngũ Thiên Sinh Diên Tuyệt Họa Lục,

Ly Lục Ngũ Tuyệt Diên Họa Sinh Thiên

Cấn Lục Tuyệt Họa Sinh Diên Thiên Ngũ,

Khôn Thiên Diên Tuyệt Sinh Họa Ngũ Lục,

Đoài Sinh Họa Diên Tuyệt Lục Ngũ Thiên”.

Chữ đầu tiên trong mỗi dòng thuộc về khẩu quyết của tinh diệu du niên đều đại diện cho “Mệnh quái của chủ nhân” và “Phúc nguyên cuả trạch địa”, phúc nguyên tức là tọa. tên của mệnh quái thuộc chữ đầu tiên sẽ tương ứng với phương vị. Xin các bạn tham khảo bảng dưới đây:


 

Nếu dương trạch tọa Tây Bắc hướng Đông Nam, khi đó vận dụng khẩu quyết bắt đầu bằng chữ “Càn”: “Càn Lục Thiên Ngũ Họa Tuyệt Diên Sinh”, khi đó lấy càn làm Phục vị (chữ đầu tiên của mỗi dòng sẽ là tên của dich quái, cũng chính là Phục vị tinh). Sau đó thuận theo chiều kim đồng hồ để sắp xếp du tinh, trước tiên lấy Càn thuộc về hướng Tây Bắc làm Phục vị, tiếp đó thuận theo chiều kim đồng hồ mà sắp xếp Lục sát tại hướng Bắc, Thiên y tại hướng Đông Bắc, Ngũ quỷ tại hướng Đông, Họa hại tại hướng Đông Nam, Tuyệt mệnh tại hướng Nam, Diên niên tại hướng Tây Nam, Sinh khí tại hướng Tây. Trong khẩu quyết của du niên lấy tên rút gọn làm đại diện cho du tinh, nhưng khi sắp xếp tinh bàn cần điền tên đầy đủ. Khi sắp xếp tinh bàn, không được thiếu cửu cung các (cũng chính là cửu cung đồ), mà phương vị của cửu cung các cần dựa vào các thức sau đây (như hình 1 đã thể hiện là ngoại lệ, vì trong đó chỉ ghi rõ toàn bộ phương vị mà thôi). Khi gặp phải một cửu cung các, nếu không có ghi rõ phương vị, phía trên chắc chắn đại diện cho hướng Bắc (cũng như sơ đồ đất đai không chỉ thị phương vị thì phía trên cũng đại diện cho hướng Bắc), phía dưới đại diện cho hướng Nam, vừa đúng là trái ngược nhau.

Phần để trống của cửu cung các ở chính giữa của cửu cung đồ được dùng để điền du tinh Tây Bắc vào, nếu lấy Càn trạch (tọa Tây Bắc) làm ví dụ, khi đó điền Phục vị vào hướng Tây Bắc, điền Lục sát vào hướng Bắc, điền Thiên Y vào hướng Đông Bắc, điền Ngũ Quỷ vào hướng Đông, điền Họa hại vào hướng Đông Nam, điền Tuyệt mệnh vào hướng nam, điền Diên niên vào hướng Tây Nam, điền Sinh khí vào hướng Tây, khi đó sẽ tương tự như hình 2.

Tám tinh diệu đồ để các bạn tham khảo.

Tinh bàn đã được liệt kê như trên, vậy trong tình huống nào mới có thể sử dụng được? Có 2 tình huống:

Một là, tinh bàn thuộc về bản thân.

Hai là tinh bàn tọa hướng thuộc về ngôi nhà.

Đối với tinh bàn thuộc về bản thân cần xem xét mệnh quái của bản thân là gì, đây là việc mệnh trạch tương phối mà người ta thường nói, người thuộc Đông tứ mệnh cần sống trong Đông tứ trạch, người thuộc Tây tứ mệnh cần sống trong Tây tứ trạch, người thuộc Đông tứ mệnh kỵ sống trong Tây tứ trạch, người thuộc Tây tứ mệnh kỵ sống trong Đông tứ trạch.

“Mệnh quái” của Dịch kinh bát trạch phải được đoán định dựa vào năm sinh, bây giờ xin liệt kê một bảng đối chiếu cung cấp cho các bạn tham khảo.

Nội dung nêu trên là một bảng mệnh quái, mỗi người khác nhau đều sẽ thuộc về một mệnh quái trong đó, mà điều kiện quan trọng trong việc phân biệt Đông Tây tứ mệnh là cần biết bạn thuộc về mệnh quái nào.

Đông tứ mệnh – Chấn, Tốn, Ly, Khảm

Tây tứ mệnh – Càn, Khôn, Cấn, Tốn.

Giả sử con cái của bạn sinh vào năm Mậu Dần 1998, khi kiểm tra bảng đối chiếu mệnh quái nam nữ sẽ thấy người nam thuộc”Khôn mệnh”, mà người nữ lại thuộc “Tốn mệnh”. Khôn mệnh thuộc Tây tứ mệnh, do đó người nam là người thuộc Tây tứ mệnh, còn Tốn mệnh thuộc Đông tứ mệnh, do đó người nữ là người thuộc Đông tứ mệnh.

Cát vị của người thuộc Đông tứ mệnh chắc chắn tại Chấn (hướng Đông), Tốn (hướng Đông Nam), Ly (hướng Nam), Khảm (hướng Bắc), mà hung vị của người thuộc Đông tứ mệnh chắc chắn tại Càn (hướng Tây Bắc), Khôn (hướng Tây Nam), Cấn (hướng Đông Bắc), Đoài (hướng Tây).

Cát vị của người thuộc Tây tứ mệnh chắc chắn tại Càn (hướng Tây Bắc), Khôn (hướng Tây Nam), Cấn (hướng Đông Bắc), Đoài (hướng Tây), mà hung vị của người thuộc Tây tứ mệnh chắc chắn tại Chấn (hướng Đông), Tốn (hướng Đông Nam), Ly (hướng Nam), Khảm (hướng Bắc).

Tuy người thuộc Đông Tây tứ mệnh đã biết được phương vị nào là cát vị và phương vị nào là hung vị, nhưng như thế nào là cát lợi và như thế nào là hung hiểm lại cần dựa vào tinh diệu để đoán định. Sau đây xin được phân tích về việc lành dữ của tám du tinh.

Sinh khí tinh – theo như sách xưa đã viết: “Là cát tinh thứ nhất trong tám phương vị, khi có được sinh khí tinh này sẽ được đại phú quí, con cháu làm quan, nhân khẩu thịnh vượng”. Tinh diệu này là cát tinh thứ nhất, khi vị trí cửa chính đặt tại phương vị này sẽ chủ định thăng quan phát tài.

Thiên y tinh – theo như sách xưa đã viết: “Cát tinh thứ hai là Thiên y tinh, nếu mệnh quái của vợ chồng kết hợp có được Thiên y tinh, với cửa chính, cửa phòng, giường, miệng bếp đều hướng về phương vị này có thể sinh được ba người con trai, rất giàu có, cả nhà bình an, nhân khẩu thịnh vượng”. Khi vị trí cửa chính đặt tại phương vị này sẽ có lợi cho sức khỏe nhất, cũng như chủ định sự nghiệp thành công, tài vận thịnh vượng.

Diên niên tinh – theo như sách xưa đã viết: “Cát tinh thứ ba là Diên niên tinh, nếu mệnh quái của nam nữ kết hợp có được Diên niên tinh, với cửa chính, cửa phòng, giường, miệng bếp đều hướng về phương vị này có thể sinh được bốn người con trai, khá giả đại thọ, ngày ngày được tài, vợ chồng hòa thuận:. Tinh diệu này có lợi nhất cho tuổi thọ, khi cửa chính đặt tại phương vị này sẽ chủ định trường thọ, cũng như vợ chồng yêu thương hết mực và có lợi cho đào hoa vận.

Phục vị tinh – theo như sách xưa đã viết: “Cát tinh thứ tư là phục vị tinh, khi có được phục vị tịnh sẽ không cần lo nghĩ đến cái ăn cái mặc và sống khá thọ, thường có được tiểu tài, sinh được nhiều con gái nhưng lại ít con trai”. Khi vị trí cửa chính đặt tại phương vị này sẽ chủ định mọi việc ổn định thuận lợi, cũng như thuộc về cát vị. Sách xưa lại viết: “Bốn tinh diệu nêu trên là tứ cát vị, thích hợp đặt vị trí giường, cửa chính, cửa phòng (thích hợp với nguyên vận) và bếp, ngoài ra từ đường, cửa tiệm, kho bãi cũng thích hợp đặt tại cát vị”. Đối với cái gọi là “Dương trạch tam yếu là môn, chủ, táo”, khi vị trí cửa chính đặt tại tứ cát vị trên, vận khí sẽ thịnh vượng, phát tài phát lộc.

Tuyệt mệnh tinh – theo như sách xưa đã viết: “Hung tinh thứ nhất là Tuyệt mệnh tinh, chủ định không con không cái, chết sớm, bệnh tật, thoái tài, phá tài, tổn hại nhân khẩu”. Là hung tinh lớn nhất trong tứ hung tinh, khi vị trí cửa chính đặt tại phương vị này sẽ chủ định phá tài nhiều bệnh, đoản thọ, gặp phải tai họa đổ máu, lại khó sinh sản.

Ngũ quỷ tinh – theo như sách xưa đã viết: “Hung tinh thứ hai là Ngũ quỷ tinh, phạm phải tinh diệu này sẽ gặp phải trộm cướp, khó tránh hỏa hoạn, mắc phải bệnh tật, tranh chấp, thoái tài”. Khi vị trí cửa chính đặt tại phương vị này cần chú ý cẩn thận, người trong nhà mắc phải nhiều bệnh, gặp phải thị phi, tổn hao tiền tài, cấp dưới phản bội.

Lục sát tinh – theo như sách xưa đã viết: “Hung tinh thứ ba là Lục sát tinh, khi phạm phải tinh diệu này sẽ chủ định thất tài, tranh chấp, phá tài, tổn hại nhân khẩu. Một khi vị trí cửa chính đặt tại phương vị này sẽ chủ định người trong nhà thường bị phá tài, gặp nhiều thị phi, mắc nhiều bệnh tật, dễ bị tổn thất đất đai nhà cửa”.

Họa hại tinh – theo như sách xưa đã viết: “Hung tinh thứ tư là Họa hại tinh, phạm phải tinh diệu này sẽ gặp phải kiện tụng, bệnh tật, bại tài, tổn hại nhân khẩu”. Khi vị trí cửa chính đặt tại phương vị này sẽ chủ định người trong nhà dễ gặp phải kiện tụng, bệnh tật, phá tài, thương tổn, bệnh tật

Sách xưa lại viết: “Nếu bản mệnh gặp phải tứ hung tinh, ngược lại nên đặt hầm xí (bàn cầu), nhà bếp, ống khói, khoan giếng, cối xay, nhà củi, phòng cho khách ngủ lại tại đây, khi có những vật này ép trên bản mệnh tứ hung tinh sẽ trấn áp được hung tính của nó, không những không gặp tai họa, mà ngược lại còn được phúc.

Giả sử nếu bạn là một người nam sinh vào năm 1956, khi kiểm tra lên bảng đối chiếu mệnh quái nam nữ sẽ biết được bản thân là người thuộc Cấn mệnh, tinh đồ của Cấn mệnh như sau:

Bạn chỉ cần chọn đặt vị trí cửa chính tại Sinh khí vị của ngôi nhà, như thế đã trở thành ngôi nhà vượng tài, sau đó đặt nhà vệ sinh tại hướng Đông Nam thuộc về Tuyệt mệnh vị để trấn áp Tuyệt mệnh hung vị, khi đó không chỉ không gặp phải hung hiểm, mà ngược lại còn có thể thu hút cát lợi và có được tài vận đại vượng. Điều này chính là mệnh trạch tương phối.

Nếu chỉ luận về việc lành dữ của ngôi nhà lại có khác biệt, bạn có thể mua một ngôi nhà tọa hướng Bắc Nam. Đối với tọa hướng trong phong thủy, căn cứ theo nội dung sau đây để xác định:

Ngôi nhà trong Hình 1 chỉ lấy cửa chính làm hướng.

Tòa nhà cao tầng trong Hình 2 chỉ lấy lối ra vào của toàn nhà cao tầng làm hướng.

Trong Hình 3, toàn nhà cao tầng có rất nhiều lối ra vào, như thế lấy cửa chính của căn hộ mà bản thân đang sống để làm hướng (xin tham khảo hình vẽ).

Sau khi đã nói về việc xác định tọa hướng, lại tiếp tục nói về việc mua ngôi nhà tọa Bắc hướng Nam. Khi đó cần luận đoán như thế nào. Về việc lành dữ của nó, xin tham khảo tinh bàn sau đây.

Ngôi nhà này thích hợp nhất đặt vị trí cửa chính tại hướng Đông Nam thuộc về Sinh khí vị, hoặc tại hướng Nam thuộc về Diên niên vị, hoặc tại hướng Đông thuộc về Thiên y vị, trong đó đặt tại Sinh khí vị là cát lợi nhất, có thể thăng quan tiến chức; nhưng lại tối kỵ đặt vị trí cửa chính tại hướng Tây Nam thuộc về Tuyệt mệnh vị, vì nó chủ định phá tài, mắc nhiều bệnh tật, gặp phải tai họa đổ máu. Vừa rồi chỉ luận về việc lành dữ của ngôi nhà này, nếu phối hợp với Cấn mệnh đã đề cập trong nội dung trước, như thế đã trở thành mệnh trạch bất phối. Vì Cấn mệnh thuộc Tây tứ mệnh, mà Khảm trạch lại thuộc Đông tứ trạch, với Cấn mệnh có thể đặt vị trí cửa chính tại hướng Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc, Tây có thể thu hút cát lợi, nhưng Khảm trạch lại thuộc về hung vị trong bốn phương vị này! Cả hai phối hợp với nhau sẽ có mâu thuẫn, do đó không biết đặt vị trí cửa chính tại phương vị nào mới thích hợp.

Khi các bạn gặp phải Đông Tây bất phối như thế (Đông tứ trạch không phối hợp được với Tây tứ mệnh) cũng không cần sợ hãi, vì dự ảnh hưởng của mệnh quái tương đối lớn, do đó khi gặp phải mệnh trạch bất phối, như vậy có thể lấy mệnh quái của nam chủ nhân để bố trí các cục, nhưng vẫn phải lấy Khôn vị của người thuộc Cấn mệnh làm Sinh khí vị để đặt vị trí cửa chính tại đó. Tuy Khảm cung khi tọa Bắc hướng Nam có hướng Tây Nam thuộc về Tuyệt mệnh vị, vì sự ảnh hưởng của mệnh quái tương đối lớn, do đó chỉ có cách bỏ đi mà không cần quan tâm đến đặc tính của Tây Nam cung.

WHITE HOME - Sưu tầm.


Cũ hơn Mới hơn